[WOWTIMES - VIETKINGS] Tranh kính Bà Vệ tại An Giang: Sắc màu di sản trong đời sống văn hóa người Nam Bộ - Top các di sản tiêu biểu tại 34 tỉnh, thành Việt Nam (P.31)

15-06-2026

(WOWTIMES - VIETKINGS) Nhắc tới tranh kiếng Nam Bộ, người ta chẳng thể nào bỏ qua dòng tranh Bà Vệ nức tiếng vùng Cù lao Ông Chưởng. Và với những nghệ nhân đã trót kết duyên bén rễ với cái nghề họa kiếng tại đây, họ vẫn đang cố gắng chuyển mình theo dòng chảy thời đại để lưu giữ một nét di sản nghệ thuật vô giá của quê nhà.

 

Tranh kiếng xuất hiện ở Việt Nam từ thế kỷ XIX, theo chân những người Hoa di cư. Ban đầu, dòng tranh này chỉ hiện diện trong cung đình Huế thời vua Minh Mạng. Vua Thiệu Trị từng cho thợ Trung Quốc vẽ hai mươi cảnh đẹp đất Huế kèm thơ vịnh của nhà vua, từ đó hình thành thuật ngữ “tranh gương cung đình Huế”, chỉ những tác phẩm dành riêng cho hoàng cung và giới quý tộc.

 

 

 

Tranh kiếng xuất hiện lần đầu tiên trong cùng đình Huế thời Vua Minh Mạng

 

Sang thế kỷ XX, tranh kiếng theo chân người Hoa Quảng Đông đến khu Chợ Lớn (Sài Gòn). Ban đầu, đây là dòng tranh thờ phụng thần linh, sau mở rộng với các đề tài cầu tài lộc, may mắn, sung túc, trở thành một trong những dòng tranh thịnh hành nhất Nam Bộ. Khoảng thập niên 1920, người dân Lái Thiêu (Bình Dương) học hỏi kỹ thuật từ người Hoa và sáng tạo thêm phong cách riêng: phối màu độc đáo, lồng ghép ốc xà cừ, đề tài gắn bó với tín ngưỡng Việt. Nhờ đó, Lái Thiêu nhanh chóng trở thành trung tâm sản xuất và phân phối tranh kiếng lớn nhất lục tỉnh Nam Kỳ.

Một trong những cơ sở sản xuất tranh kính nổi bật là dòng tranh Bà Vệ thuộc xã Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang (nay là xã Long Điền, tỉnh An Giang). Theo truyền khẩu, thuở xưa tại bến sông có một người phụ nữ bán bánh và đồ dùng sinh hoạt cho khách qua lại ghe thuyền. Người dân quen gọi bà là Bà Vệ. Về sau, nơi này dần trở thành chợ và mang tên chợ Bà Vệ, rồi mở rộng thành địa danh cho cả vùng đất bao quanh. Nghề vẽ tranh kiếng ở Bà Vệ bắt đầu vào những năm 1950, do ông Trần Văn Tú – người từng học nghề tại Cần Thơ theo trường phái Lái Thiêu – mang về truyền dạy. Từ đây, nhiều người dân trong vùng theo học và phát triển thành làng nghề tranh kiếng Bà Vệ. Thập niên 1990 chính là giai đoạn hưng thịnh nhất, khi toàn vùng có đến hàng ngàn hộ gia đình tham gia sản xuất tranh. Ngày nay, dù chỉ còn vài chục hộ đủ khả năng duy trì nghề, nhưng Bà Vệ vẫn được xem là điểm sáng tiêu biểu của dòng tranh kiếng Nam Bộ. Trong đó, cơ sở Thanh Hòa nổi bật như một đại diện tích cực trong việc bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật truyền thống này.

 

 

Sau khi du nhập vào Nam Bộ, tranh kính đã trở nên đa dạng hơn chủ yếu là hình thờ tổ tiên, tiên gia, phật, tranh chữ... và tranh phong cảnh

 

 

Những sản phẩm của làng nghề tranh kiếng Bà Vệ rất đa dạng và đẹp mắt. Nó không chỉ được chưng trong nhà với mục đích làm đẹp mà còn mang ý nghĩa về mặt tôn giáo

 

Một bộ tranh kiếng có 4 khung: hoành phi, 1 khung lớn ở giữa, 2 khung liễn đối ở hai bên. Phần lớn tranh vẽ trên kiếng ngày xưa đều dựa theo điển tích lịch sử như: Phật Thích Ca Mâu Ni, truyện Tấm Cám, Thoại Khanh - Châu Tuấn, Nhị thập tứ hiếu, Phạm Công - Cúc Hoa, Lục Vân Tiên, Dương Lễ - Lưu Bình… hoặc tranh phong cảnh, tranh thờ với những câu đối như “Tổ công, Phụ đức, thiên thiên thịnh/ Tứ hiếu, tôn hôn, vạn đệ vinh”, "Phúc Lộc Thọ", Cửu quyền thất tổ"...

Ban đầu, các nghệ nhân dùng phương thức vẽ tranh lên giấy, sau thấy giấy mau hư nên vẽ lên các loại vải, lên chất liệu thiếc nhưng độ bền cũng không cao. Sau cùng họ đã nghĩ ra biện pháp tối ưu là vẽ tranh trên kiếng, lồng tranh vào khung gỗ sẽ giúp tranh đạt được màu sắc rực rỡ và có độ bền lâu. Phương pháp thủ công xưa là phải vẽ từ phía sau mặt kính, sau đó lật tấm kính lại và đây mới là mặt chính của tranh. Cũng bởi thế, mọi chi tiết trong tranh kiếng đều phải vẽ ngược so với quy trình vẽ tranh thông thường, chi tiết nào cần vẽ sau cùng sẽ phải vẽ đầu tiên. 

 

 

Khi bắt đầu vẽ thì người thợ đặt tấm kiếng trên tờ giấy mẫu vẽ ngược, rồi dùng bút lông chấm mực vẽ đồ theo tờ giấy mẫu ấy, từ chuyên môn được gọi là “tách”. Người thợ tách phải có bàn tay khéo léo để nét bút được sắc sảo. Sau khi tách xong, người thợ chấm sơn tô màu theo quy định vào những ô đã tách và “tán” tức pha ô màu từ đậm tới lợt. Tô màu theo trình tự nhất định: vật thể tiền cảnh trước, hậu cảnh sau. Cuối cùng là màu phông. Rồi đem phơi khô. Sau khi tranh đã khô thì mới cẩn ốc xà cừ, dán vàng quỳ, tô nhũ kim, hay dán giấy trang kim vào phía sau bức tranh để tăng thêm phần rực rỡ. Sau cùng họ phủ thêm lớp sơn để bảo vệ rồi mới đặt vào khuôn gỗ đóng hậu, hoàn thành sản phẩm.Khởi thủy, nguyên liệu để vẽ tranh là màu bột pha với đồng du (dầu cây du đồng), mực tàu. Về sau người thợ vẽ dùng cả sơn tây, sơn ta, bột màu pha a dao. Khi khoa học bắt đầu phát triển mạnh, những nghệ nhân bắt đầu áp dụng phương thức kéo lụa trên kiếng với nhiều ưu điểm vượt trội như: Nhanh, đẹp, màu sắc rực rỡ, độ tương đồng giữa các bức tranh hoàn toàn giống nhau, giá thành rẻ. Hiện nay, hầu hết các cơ sở vẽ tranh trên kiếng đều thực hiện cách làm hiện đại này.

 

 

Quy trình làm ra những bức tranh kính đẹp mắt, rực rỡ màu sắc

 

Về hình ảnh bên trong, tranh kiếng được chia thành 2 loại: Tranh thờ và tranh phong cảnh. Đối với loại tranh thờ, sản phẩm chủ yếu thể hiện hình ký tự thời Nho có chú thích chữ quốc ngữ, như Cửu Thiên huyền nữ, Phước - Lộc - Thọ, Cửu huyền thất tổ. Còn với tranh trang trí thì lại càng phong phú hơn vì nó không tuân theo quy chuẩn hay nguyên tắc truyền thống nào. Ngoài ra, loại tranh này được ưa chuộng hơn vì nó còn được bổ sung thêm các hình vẽ về phong cảnh đất nước, cảnh đẹp An Giang,..

 

 

Bức tranh kiếng Quan Âm Bồ Tát của người Hoa vẽ từ năm 1920

 

 

Các tranh Nam Bộ ghép thành tác phẩm lớn với chủ đề về thiên nhiên, ngoài cùng là hai câu đối

 

 

Các mẫu tranh kính thờ Cửu huyền thất tổ

 

Về hình thức bên ngoài, tranh kiếng cũng được chia thành 2 loại: Tranh kéo lụa và vẽ tay. Phương pháp kéo lụa được áp dụng để sản xuất đại trà, số lượng làm ra nhiều nên giá thành của loại tranh này cũng tương đối rẻ. Ngược lại, phương pháp vẽ tay với nội dung thường do được đặt theo yêu cầu của bạn nên yêu cầu sự kì công tỉ mỉ và nhờ đó mà giá thành cao hơn. Theo một người lao động trong làng nghề tranh kiếng Bà Vệ chia sẻ rằng cơ sở đang cố gắng phát triển thêm dòng tranh kiếng cẩn ốc xà cừ để đáp ứng nhu cầu nâng cao của thị trường. Loại tranh này đòi hỏi người nhân công phải kiên nhẫn, tỉ mỉ trong từng công đoạn nên giá cả khá cao so với các sản phẩm cùng loại. Khác với những loại khác, những đường nét phải được vẽ từ phía sau kiếng, khi hoàn tất thì bề còn lại mới là mặt chính của tranh. Trong trường hợp, người làm nghề đi sai một chi tiết nhỏ cũng phải làm lại cả bức tranh. Chính điều này đã tạo nên nét độc đáo hiếm có của tranh kiếng.  

 

 

Tranh kính vẽ tay về đức Phật

 

Tranh kiếng đã đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng và mĩ thuật của công chúng khắp các thôn xã từ miền Đông Nam bộ đến miền Tây Nam Bộ và trở thành loại hình nghệ thuật dân gian phát triển cùng giai đoạn lịch sử đất nước, hòa quyện với các dòng tranh dân gian khác như tranh Đông Hồ, làng Sình, hàng Trống, Kim Hoàng, tranh Thập vật… tạo nên bức tranh văn hóa Việt. Ngày nay, nghệ thuật vẽ tranh Kiếng dân gian Nam Bộ không còn được ưa chuộng và phát triển như xưa, vì vậy cần có các phương án bảo tồn, phát huy các giá trị nghệ thuật truyền thống này để lưu giữ một vốn quý trong kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam. 

 

 

-------------------------------------------------------------------

TỔ CHỨC KỶ LỤC VIỆT NAM (VIETKINGS)

01 Đặng Văn Ngữ, Phường Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh

Điện thoại: (0283) 8 477 477

Đăng ký Kỷ lục: 0908 254 258 - 08 333 68 555


Mỹ Hằng - WowTimes (Tổng hợp và biên tập, ảnh: Internet)